21. Thủy Sám Dẫn
Nguyên văn:
水懺引
啟建資福道場大齋壇 今據
大南國...(如前)欽奉
敕旨建壇于純毅堅太王祠奉
佛修齋諷經資福酬恩事、謹蠲今月吉日、壇開三晝之連霄、徧滿十方之世界、披宣慈悲三昧水懺法。今則第一二三巻已完隆、仰仗神通、棒持章表、遞奏
十方諸佛、遙通四府王官、祈金靈早徃樂邦、扶寶祚延長吉慶。須至引者
右引仰
僊人門下奏事使者。
Phiên âm:
THỦY SÁM DẪN1
Khải Kiến Tư Phước Đạo Tràng Đại Trai Đàn
Kim cứ: Đại Nam Quốc … (như tiền) khâm phụng sắc chỉ kiến đàn vu Thuần Nghị Kiên Thái Vương Từ phụng Phật tu trai phúng kinh tư phước thù ân sự; cẩn quyên2 kim nguyệt cát nhật, đàn khai tam trú chi liên tiêu, biến mãn thập phương chi thế giới; phi tuyên Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp. Kim tắc đệ (nhất, nhị, tam) quyển dĩ hoàn long, ngưỡng trượng thần thông,3 bổng trì chương biểu;4 đệ tấu thập phương chư Phật, dao thông Tứ Phủ Vương Quan; kỳ kim linh tảo vãng Lạc Bang, phò bảo tộ diên trường cát khánh. Tu chí Dẫn giả.
Hữu Dẫn Ngưỡng
Tiên nhân môn hạ tấu sự Sứ Giả.
Dịch nghĩa:
VĂN DẪN THỦY SÁM
Kiến Lập Đại Trai Đàn Đạo Tràng Cầu Phước
Nay vâng: Việc Nước Đại Nam … (như trước), vâng mạng sắc chỉ lập đàn tại Từ Đường Thuần Nghị Kiên Thái Vương, thờ Phật, ăn chay tụng kinh cầu phước báo ơn; kính chọn tháng nầy ngày tốt, đàn mở xuyên suốt ba ngày đêm, cùng khắp mười phương các thế giới; cung tuyên Pháp Từ Bi Tam Muội Thủy Sám. Nay là quyển một, hai, ba đã tụng xong, ngưỡng nhờ thần thông, mang theo tấu chương; tâu lên mười phương chư Phật, xa thông Bốn Phủ Vương Quan; cầu kim linh sớm vãng Lạc Bang, giúp ngôi báu lâu dài tốt đẹp. Kính dâng Dẫn nầy.
Kính Dẫn Dâng
Tiên nhân môn hạ tâu sự việc Sứ Giả.
Chú thích:
- Dẫn (引): một loại thể văn được hình thành vào thời nhà Đường (唐, 618-907), như Dẫn Thủy Sám Bát Tiên, v.v.
- Quyên cát (蠲吉): tắm rửa sạch sẽ, thọ trì trai giới, chọn ngày tốt lành. Như trong tác phẩm Kim Liên Ký (金蓮記), phần Trùng Biếm (重貶), của Trần Nhữ Nguyên (陳汝元, ?-?) nhà Minh có câu: “Mông chỉ an trí, quyên cát khởi trình (蒙旨安置、蠲吉起程, mong chiếu chỉ yên trí, chọn ngày tốt khởi hành).” Hay trong Dạ Đàm Tùy Lục (夜譚隨錄), phần A Trĩ (阿稚), của Hòa Bang Ngạch (和邦額, 1736-?) nhà Thanh cũng có câu: “Bất tất quyên cát, kim nhật tiện giai, tức khả hoán tế lai bái đường dã (不必蠲吉、今日便佳、卽可喚婿來拜堂也, không cần chọn ngày tốt, hôm nay cũng tốt rồi, tức có thể gọi chàng rễ đến bái đường được).”
- Thần thông (s: abhijñā, p: abhiññā, 神通): âm dịch là Tác Tuần (作旬); ý dịch là thần thông lực (神通力), thần lực (神力), thông lực (通力), thông (通), v.v.; nghĩa là nương vào việc tu tập Thiền định mà đạt được tác dụng tự tại vô ngại, siêu việt con người, không thể nghỉ bàn. Có 5 loại thần thông (Ngũ Thần Thông [五神通], Ngũ Thông [五通]) là Thần Túc Thông (神足通), Thiên Nhãn Thông (天眼通), Thiên Nhĩ Thông (天耳通), Tha Tâm Thông (他心通), Túc Mạng Thông (宿命通). Nếu cọng thêm Lậu Tận Thông (漏盡通) thì trở thành Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通, hay Lục Thông [六通]). Ngoài ra, cũng có khi chỉ riêng Thần Túc Thông là thần thông. Theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 27, Lục Thông thì lấy tuệ (慧) làm bản chất (tự tánh); trong đó Ngũ Thần Thông nhờ tu Tứ Thiền (s: catvāri dhyānāni, p: cattāri jhānāni, 四禪) mà chứng được; không phải chỉ có bậc Thánh mới chứng đắc, mà ngay cả phàm phu cũng có thể chứng được. Tuy nhiên, đối với trường hợp Lậu Tận Thông thì chỉ có bậc Thánh mới có được. Theo Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 28, Bồ Tát có Ngũ Thông, Phật thì có Lục Thông. Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 16 còn cho biết rằng ngoài Phật Giáo ra, ngoại đạo cũng có thể đạt được Ngũ Thông. Vị tiên chứng đắc được Ngũ Thông được gọi là Ngũ Thông Tiên Nhân (五通仙人). Đại Thừa Nghĩa Chương (大乘義章, Taishō Vol. 44, No. 1851) quyển 20 có nêu lên 4 phương pháp đạt được thần thông. (1) Nhờ quả báo sanh lên cõi Thiền thứ tư mà đạt được Báo Thông (報通, thần thông có được nhờ quả báo); (2) Tiên nhân nhờ năng lực của thuốc, có được Nghiệp Thông (業通, do nghiệp mà đạt được năng lực thần thông) tự do bay trên không. (3) Bà La Môn nhờ trì chú mà đạt được Chú Thông (咒通); (4) Nhờ tu Thiền định mà chứng được thần thông gọi là Tu Thông (修通). Trong đó, Nghiệp Thông và Chú Thông thuộc về thần thông của ngoại đạo. Tông Kính Lục (宗鏡錄, Taishō Vol. 48) quyển 15 lại chia thần thông làm 5 loại khác: (1) Đạo Thông (道通), là thần thông đạt được sau khi ngộ lý Trung Đạo (s: madhyamā-pratipad, p: majjhima-paṭipadā, 中道), lấy vô tâm để ứng với muôn vật mà biến hiện vạn hữu. (2) Thần Thông (神通), là năng lực thần thông nương vào sự tĩnh tâm của Thiền định, quán sát tư duy mà biết được mạng sống đời trước, v.v. (3) Y Thông (依通), là năng lực thần thông nương vào dược liệu, hộ phù hay chú, v.v., mà có được. (4) Báo Thông (報通), là năng lực thần thông nương vào quả báo mà có được. (5) Yêu Thông (妖通), là năng lực thần thông của hàng yêu quái. Trong Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 12, chương Khiết Bàn Đà Quốc (朅盤陀國), của Huyền Trang (玄奘, 602-664) nhà Đường, có đoạn: “Thời Khiết Bàn Đà quốc, hữu đại La Hán, diêu quán kiến chi, mẫn kỳ nguy ách, dục vận thần thông, chửng tư luân nịch (時朅盤陀國、有大羅漢、遙觀見之、愍其危厄、欲運神通、拯斯淪溺, lúc bấy giờ ở nước Khiết Bàn Đà, có một vị đại La Hán, xa quán thấy như vậy, thương xót tai ách của họ, muốn vận thần thông, cứu vớt sự chìm đắm ấy).” Vua Lý Nhân Tông (李仁宗, tại vị 1072-1127) có bài thơ rằng: “Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo hựu huyền, thần thông kiêm biến hóa, nhất Phật nhất thần tiên (覺海心如海、通玄道又玄、神通兼變化、一佛一神仙, Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo lại huyền, thần thông và biến hóa, bên Phật bên thần tiên).” Hay trong bài Lục Quán Đường Tán (六觀堂贊) của Tô Thức (蘇軾, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Ngã quán chúng sanh, thần thông tự tại (我觀眾生、神通自在, ta quán chúng sanh, thần thông tự tại).”
Chương biểu (章表): có mấy nghĩa. (1) Tấu chương, tấu biểu. Trong tác phẩm Văn Tâm Điêu Long (文心雕龍), phần Chương Biểu (章表), của Lưu Hiệp (劉勰, khoảng 465-?) nhà Lương thời Nam Triều có giải thích rằng: “Hán định lễ nghi, tắc hữu tứ phẩm, nhất viết Chương, nhị viết Tấu, tam viết Biểu, tứ viết Nghị; Chương dĩ tạ ân, Tấu dĩ án hặc, Biểu dĩ trần thỉnh, Nghị dĩ chấp dị (漢定禮儀、則有四品、一曰章、二曰奏、三曰表、四曰議、章以謝恩、奏以按劾、表以陳請、議以執異, nhà Hán định ra lễ nghi, tất có bốn loại; một là Chương, hai là Tấu, ba là Biểu, bốn là Nghị; Chương để tạ ơn, Tấu để chiếu theo hạch tội, Biểu để trình bày xin, Nghị để giải quyết sự bất đồng).” (2) Tiêu ký, tượng trưng.